Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Làm muối

Khu vực ven biển Nam Định là vùng sản xuất muối nhiều nhất Miền Bắc, tuy nhiên điều nghịch lý là nơi đây lại không phải khu vực có ưu thế cho nghề sản xuất muối. 

Bờ biển Nam Định có 3 con sông lớn chảy ra là sông Hồng, sông Đáy và sông Ninh Cơ, làm nước biển ở đây bị pha nhạt đi rất nhiều. Ba con sông còn khiến vùng biển này rất ít cá so với những vùng biển khác do sự mặn nhạt thất thường của nước. Đây có lẽ là rủi ro kép đối với người dân ven biển Nam Định.

Khi xưa khai hoang lấn biển, những vùng đất chua phèn mới chiếm được từ biển chỉ có thể dùng vào hai việc là trồng cói hoặc sản xuất muối. Tuy sản xuất muối không thuận lợi do nguồn nước nhạt nhưng dù sao vẫn có lợi ích kinh tế và đem lại việc làm nhiều hơn hơn so với trồng cói. Và vì thế các cánh đồng muối của Nam Định xuất hiện, giúp bao thế hệ người dân biển mưu sinh trên mảnh đất quê hương đầu sóng ngọn gió của mình.

Nắng là nguồn sống của người làm muối, vì thế người ta mong nắng nóng từng ngày. Nhớ ngày xưa còn bé, có lần em đọc câu thơ bà nội dạy: "Trời ơi đừng nắng đừng mưa/ Râm râm mát mát cho vừa lòng tôi". Bà ngoại nghe xong bảo: câu đó của người trồng lúa cháu ạ, người làm muối không muốn thế...

Như đã nói, nước biển ở Nam Định rất nhạt, do đó làm muối phải thêm công đoạn phơi cát để làm tăng thêm độ mặn cho nước. Nguyên lý của nó là người ta làm cho cát ngấm nước biển rồi phơi cát đó ra để cho nước biển kết tinh thành những hạt muối nhỏ trên mỗi hạt cát. Sau đó đem lọc những hạt cát đó để cho ra một loại nước mặn hơn trước khi phơi cho kết tinh thành muối.

Do làm gối đầu ngày này qua ngày khác nên trên đồng muối luôn có sẵn nước mặn đã được lọc từ những ngày trước, gồm nước mặn độ 2 và nước mặn độ 3. Hai loại nước này đựng trong các thống (chum) chôn bên sân muối, thống đựng nước 2 gọi là thống con, thống đựng nước 3 gọi là thống cái. 

Buổi sáng người làm muối phải dậy thật sớm để phơi cát trên sân đất và phơi nước trên sân bê tông, làm sao cho khi mặt trời lên là tất cả mọi việc đều xong, tận dụng tối đa sức nóng của mặt trời. Để làm muối được năng suất và hiệu quả người làm muối phải có khả năng phán đoán thời tiết thật tốt. Phải biết được ngày hôm đó nắng to hay nắng nhẹ để phơi cát dầy hay mỏng, phơi nước ít hay nhiều. Nếu trời nắng nhẹ mà phơi cát dầy quá cát sẽ không khô, phơi nước nhiều quá thì nước sẽ không kịp kết tinh thành muối hoặc chỉ được muối non (giống đá non ở trong tủ lạnh). Nếu nắng to mà phơi nước ít quá thì sẽ bị cháy muối, muối sẽ trở thành bột như muối rang. Bởi thế đôi khi hai hộ gia đình có cùng một diện tích làm muối như nhau nhưng sản lượng muối có thể rất khác nhau do mức độ chịu khó và sự tính toán thời tiết khác nhau.


Phơi cát. (ảnh mạng)
Phơi nước. (ảnh mạng)
Người đàn ông này đã hoàn thành việc phơi cát và phơi nước, 
trong khi phía sân đối diện còn chưa bắt đầu công việc. (ảnh mạng)
Buổi chiều, khoảng 1 giờ chiều là cả nhà lại đội nắng ra đồng. Trẻ con được giao nhiệm vụ trang cát, gạt cát lại thành luống để người lớn xúc chở đưa về bể lọc. Việc trang cát này tùy theo sức khỏe có thể đẩy một trang đầy hoặc một nửa trang cát, đẩy từ giữa sang hai phía tạo thành hai luống cát.

Trang cát. (ảnh mạng)
Con trang, mẹ xúc. (ảnh mạng)
Cát sau khi thu lại đổ vào bể lọc gọi là chạt. Múc nước 2 từ thống con đổ vào chạt để lọc cát, nước sau khi lọc là nước 3 lại chảy vào thống con. Lúc này múc nước 3 từ thống con sang thống cái để sáng mai phơi nước, sau đó múc nước biển từ mương đổ vào chạt để lọc lại "sái" của nước 3 thành nước 2 chảy xuống thống con. (các bác hình dung việc lọc nước này giống như pha cafe phin). 

Chạt. (ảnh mạng)
Đổ nước vào chạt. (ảnh mạng)
Múc nước 3 từ thống con sang thống cái. (ảnh mạng)
Công đoạn vất vả nhất của làm muối là lấy chạt. Sau khi nước lọc chảy hết xuống thống con, người làm muối phải xúc cát trong chạt ra để sáng mai đem phơi. Cát ướt mút rất chặt đầu xêu (dụng cụ dùng để xúc, có lưỡi bằng và rộng hơn chiếc xẻng), người làm muối phải dùng hết sức mới có thể bẩy được từng xêu cát lên. Công việc này khiến đôi bàn tay người làm muối chai lại như đá.

Lấy chạt. (ảnh mạng)
Thu cát và lọc nước xong thì cũng vừa lúc mặt trời sắp lặn, lúc này mới bắt đầu nạo muối. Nạo muối là một việc nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, phải làm sao nạo được những hạt muối to nhất để khi đong được "dôi", nếu nạo muối nát vụn thì khi đong sẽ bị "hao". Hơn nữa nạo muối phải thật khéo để không làm thủng lớp bóng bề mặt của sân bê tông (làm bằng vôi + bồ hóng, tro bếp).

Sau khi nạo muối và gạt thành từng đống trên sân bê tông, muối được xúc đổ lên xe cút kít. Xe cút kít lúc này phải được đỗ trên một máng nước để nước mặn từ muối ướt chảy ra được trôi về thống cái.

Nạo muối. (ảnh mạng)
Xe muối ướt đang để chờ khô, nước muối nhỏ xuống máng chảy về thống cái,
Việc cuối cùng trước chi chở xe muối về là rửa sân bê tông. Dùng bầu múc nước từ thống cái dội đều khắp mặt sân bê tông để làm tan những hạt muối vụn còn sót lại, sau đó bạt nước đó xuống máng chảy ngược về thống cái, để không phí từng hạt muối mặn.

Rửa sân.
Bạt nước về thống cái.
Thời em làm muối thì muối là muối của hợp tác xã, sau khi thu về phải nộp cả cho hợp tác xã để tính công điểm, sau đó quy ra sổ gạo. Bởi thế nên thường diễn ra hoạt động ăn trộm muối. Muối được giấu trong bầu nước, trong bình đựng nước uống, thậm chí cả trong túi quần áo,... Muối mang ra ngoài có thể bán cho "tư thương" hoặc đổi lấy bánh chưng, bánh rán,...

Mỗi một đội sản xuất có một cái kho muối mái lợp bằng bổi (một dạng cói loại), người đội trưởng ngồi ở cửa kho để kiểm tra và ghi lượng muối của mỗi hộ sản xuất nộp vào HTX. 

Thời đó hợp tác xã đong muối bằng cái đấu gỗ, gọi là phương, mỗi phương được chừng 30 - 40 kg muối. Người làm muối dùng hai tay thật nhẹ nhàng rải muối vào phương sao cho muối xốp lên để đong được nhiều nhất. Đang là rải mà có ai đó đá chân vào phương là muối đong bị tụt xuống, lại phải đổ ra đong lại. 

Kho muối.
Đong muối bằng phương. (ảnh mạng)
Phương. (ảnh mạng)
Phần muối cuối cùng nếu không còn đủ một phương thì rải đến lưng chừng phương và đội trưởng sẽ cắm cái thước vào đo (gọi là cái thẻ), mỗi một đơn vị đo là một lẻ (mười lẻ là một phương). 

Bây giờ không còn hợp tác xã và người ta bán muối tự do bằng cân, cái phương đong muối đã trở thành một hiện vật lịch sử.

Ngày nay "tư thương" đến mua muối ngay tại sân, tuy giá muối vẫn rất thấp.
Nghề muối có đặc thù là "sáng gieo - chiều gặt", vất vả nhưng vui, ngày nào cũng sôi động như ngày mùa của nhà nông. Tính cộng đồng của nghề muối rất cao, sáng sớm cả làng ra đồng, đi đường gọi nhau í ới, bàn tính hôm nay nắng to hay nắng nhỏ, đổ bao nhiêu nước là vừa,... Buổi chiều cả làng lại từ đồng trở về, các ngọn khói bếp lại đồng loạt bốc lên, trẻ con chạy thành đàn vật lộn nhau ngoài bờ đê chờ bố mẹ cầm roi ra lùa về ăn cơm... 

Có những buổi trưa đang ngủ ngon giấc thì trời nổi giông, cả làng lại chạy hùng hục ra đồng cứu muối. Đầu tiên phải nhanh chóng bạt nước muối trên sân bê tông xuống thống cái, sau đó thu cát khẩn trương lại kẻo trời mưa trôi hết xuống biển.

Con gái đồng muối rất khỏe, nếu vật nhau tay đôi với con trai vùng nông nghiệp thì con trai không có cửa thắng. Con gái đồng muối có nước da bánh mật săn chắc, nhìn lâu thấy rất... mệt. Không hiểu sao đi làm đồng bịt kín từ đầu đến chân mà nước da vẫn đen. Có người bảo đen là do gió chứ không phải do nắng, vả lại đâu phải cứ bịt kín là tránh được đen, có chỗ bịt kín quanh năm mà vẫn đen đấy thôi...

Con gái đồng muối rất khỏe.
Thực ra ngày xưa người làm muối không khổ lắm so với mặt bằng khổ chung của cả nước. Những dịp tháng 3 - tháng 4 giáp hạt, khi nhà nông đang phải giật gấu vá vai chạy ăn từng bữa cầm cự chờ đến ngày gặt, thì người làm muối đã lai rai có muối bán rồi. Ngày nay khi đời sống toàn xã hội khá lên thì nghề muối vẫn thế, nghĩa là bị tụt lại. 

Hơn nữa thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung chỉ cần sản xuất đủ chỉ tiêu trên giao là được, không cần quan tâm đến hiệu quả và giá trị sản phẩm. Ngày nay trong kinh tế thị trường, xét về lợi thế so sánh, muối của Nam Định không thể cạnh tranh được với muối của những vùng có năng suất cao và thậm chí cả muối nhập khẩu.

Bởi thế chuyển đổi sản xuất muối ở Nam Định là việc cần làm, tuy nhiên chuyển đổi sang cái gì luôn là điều đau đầu của cả nhà nước và người dân. Cái khó nhất không chỉ là vốn, kỹ thuật công nghệ, đầu ra cho sản phẩm mà còn là cả tư duy sản xuất gắn với tập quán sinh hoạt đã ăn sâu nhiều đời với người dân làm muối, khó có thể chuyển đổi được ngay trong ngày một ngày hai.

Đỗ Ngọc Nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét